Ánh hoàng hôn buông ráng đỏ xuống ngã ba sông Lãng Điền. Theo lệnh triệu kiến, Mai Doãn Khiêm bước vào ngự trướng của Hoàng đế. Bên trong trướng gấm, ngọn đèn dầu lạc tỏa ánh sáng ấm áp lên tấm địa đồ sông Nhị Hà. Vua Trần Thái Tông cùng Thái sư Trần Thủ Độ đang đứng bên sa bàn đê quai vạc.
Thấy Doãn Khiêm vào khom mình hành lễ, nhà vua bước tới đỡ ông dậy:
— Doãn Khiêm, Trẫm gọi khanh để bàn định việc triều chính. Công lao trị thủy Tam Đái của khanh sánh tựa non cao, chức Thượng thư bộ Công nơi kinh kỳ Thăng Long đang khuyết, Trẫm muốn trao cho khanh để cùng triều đình chấn hưng quốc kế dân sinh. Sáng mai trong lễ khánh thành, Trẫm sẽ chính thức tuyên chỉ.
Doãn Khiêm quỳ sụp xuống, cúi đầu tâu:
— Khởi bẩm Bệ hạ! Ơn mưa móc của triều đình sâu tựa biển khơi, hạ thần muôn chết không dám quên. Nhưng sở học của thần vốn chỉ gắn liền với thước đo, cọc cừ và dòng nước dữ. Thần quen ăn gió nằm sương cùng phu phen lam lũ, không am tường lễ nghi chốn cung đình hoa lệ. Giang sơn muốn vững bền thì rễ sâu phải bám chặt nơi đồng bãi. Thần khẩn cầu Bệ hạ cho thần được đệ biểu từ tạ chức quan bổng lộc nơi kinh sư, nguyện trọn đời làm một viên quan coi đê điền dã, bám trụ nơi đầu sóng ngọn gió để giữ lấy bát cơm cho bách tính!
Thái sư Trần Thủ Độ vuốt chòm râu bạc, mỉm cười:
— Bệ hạ xem, kẻ sĩ Đại Việt trọng cái gốc hơn cái ngọn. Lời Mai Phó sứ chính là đạo lý sâu rễ bền gốc mà Thái Tổ hoàng đế từng răn dạy.
Vua Trần Thái Tông nâng hai bàn tay còn quấn lụa của Khiêm, xúc động truyền:
— Khanh một lòng vì dân, tấm lòng son ấy thật đáng quý! Đã vậy, sáng mai trước muôn dân, Trẫm sẽ chuẩn y sở nguyện cao khiết của khanh.
Sáng hôm sau, tiếng chiêng đồng cùng trống trận nổi lên ba hồi chín tiếng rền vang đôi bờ sông Nhị Hà. Ba mươi dặm đê quai vạc Tam Đái rực rỡ cờ xí lộng gió. Năm vạn tráng đinh, phu dịch và binh sĩ cấm quân tề tựu trang nghiêm dọc theo triền lũy, ánh mắt rạng ngời niềm kiêu hãnh.
Trên long đài dựng sát mép nước, Mai Doãn Khiêm quỳ gối trước long nhan Hoàng đế và ba quân tướng sĩ, kính cẩn nâng cao Thượng phương bảo kiếm thắt dải lụa vàng và Phù ấn đồng Tiết chế:
— Muôn tâu Hoàng thượng! Sóng dữ đã lùi, ba mươi dặm đê quai vạc đã hoàn tất kiên cố ngăn dòng cuồng lưu, bảo vệ bờ xôi ruộng mật. Nay hạ thần xin kính cẩn dâng hoàn lại Thượng phương bảo kiếm và Phù ấn Tiết chế, hoàn thành trọn vẹn trọng trách cứu đê hộ dân mà triều đình giao phó!
Tiếp đó, Doãn Khiêm dâng lên phong sớ viết bằng mực đen nắn nót:
— Thần khẩn khoản dâng sớ xin khước từ bổng lộc kinh kỳ, nguyện ở lại trông coi đê điều điền dã muôn đời!
Nhà vua bước xuống từng bậc long đài, đón lấy kiếm báu và phù ấn, dõng dạc truyền chỉ:
— Tấm lòng trung trinh vì nước quên thân của khanh làm rạng danh sĩ khí nước nhà. Nay Trẫm ân chuẩn sở nguyện! Phong cho Mai Doãn Khiêm chức Hà đê Đốc sứ, toàn quyền trông nom việc đê điều toàn cõi châu thổ, đời đời che chở cho bách tính an cư lạc nghiệp!
Tiếng hoan hô của năm vạn con người bùng nổ như sấm dậy, vang động khắp đôi bờ châu thổ.
Đại lễ kết thúc trong tiếng reo hò rộn rã. Dưới chân đê, Đỗ Thiết khoác chiến bào Cấm quân Thống lĩnh uy nghi, sải bước tới siết chặt bờ vai gầy của Khiêm:— Khiêm huynh! Đệ theo ngự giá về kinh sư hộ vệ cấm thành. Huynh ở lại nơi sông nước gió bão, xin hãy bảo trọng! Mai này nếu đê điều cần đến binh lực hay cánh tay đệ, chỉ một lá thư, Đỗ Thiết này dẫu muôn dặm xa xôi cũng quyết vượt sông tìm về kề vai sát cánh cùng huynh!
— Đỗ đệ bảo trọng! — Khiêm nắm chặt tay bạn, rưng rưng. — Đệ về kinh giúp nước giữ nghiêm kỷ cương, đó là phúc lớn của giang sơn.
Phía sau họ, Mai Tấn trong bộ áo dài xanh tề chỉnh, ngực áo cài cẩn thận chiếc khăn tay lụa màu lam nhạt thêu cành trúc — kỷ vật vô giá của người mẹ quá cố. Chàng thư sinh mười tám tuổi nay đã rắn rỏi qua bao phen gian nan thử thách, chắp tay thưa:
— Thưa cha, con đã sắp xếp xong hành trang. Mùa xuân tới con sẽ lên kinh sư ứng thí khoa thi, đem sở học phụng sự triều đình, nối tiếp chí hướng giữ nước an dân của cha!
Doãn Khiêm mỉm cười xoa đầu con, lòng ngập tràn tin tưởng.
Cạnh đó, cậu bé Mai Hoài Ân mười hai tuổi, mặc chiếc áo vải thô màu nâu mới tinh, ngồi trên tảng đá hộc bên bờ đê, nắn nót đọc to từng con chữ đầu đời do cha nuôi và anh trai truyền dạy:
— “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh…”
Tiếng đọc chữ trẻ thơ trong trẻo ngân vang giữa trời cao lộng gió, xua tan mọi bóng ma u tối của những ngày tháng cơ cực lầm than năm nào.
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: https://truyenfull.link
Từ phía lán trại, lão phu trưởng Bá Giáp dẫn đầu đoàn bô lão và phu phen các làng bước tới. Lưng còng nhưng gương mặt rạng rỡ, Bá Giáp cùng bà con bái tạ:
— Đại nhân! Nhờ có ngài mà đê vững lúa tươi, già này cùng bà con mới có ngày hôm nay. Làng xóm đã đỏ lửa, khói bếp gạo mới đang chờ đón chúng tôi trở về rồi!
Doãn Khiêm đỡ lấy cánh tay chai sần của người thợ già:
— Lão trượng và bà con hãy về sum họp với xóm làng. Mồ hôi và tấm lòng của bà con mới chính là lũy thành kiên cố nhất!
Năm vạn dân phu rộn rã cất cao khúc ca khải hoàn, rầm rập bước trên con đường đê thênh thang trở về làng quê thân yêu.
Bóng tà dương từ từ buông xuống, nhuộm sắc vàng óng ả lên bến Lãng Điền. Ngự giá và đoàn người dần khuất dạng nơi chân trời.
Chỉ còn lại Mai Doãn Khiêm đứng lặng một mình trên đỉnh đê quai vạc lộng gió. Gió sông Nhị Hà thổi phần phật tà áo chàm quen thuộc. Ông tháo bỏ dải lụa mềm trắng trên tay, để lộ những vết sẹo mới đóng vảy sẫm màu — dấu tích của những đêm ngâm mình ghìm cuồng lưu. Bàn tay ông cúi xuống vuốt nhẹ lên thớ đất đầm nện rắn như đá hộc, cảm nhận từng nhịp thở phập phồng của bờ cõi quê hương.
Nhìn ra xa, biển lúa châu thổ ngút ngàn trổ đòng chín vàng rực rỡ, uốn lượn ôm lấy xóm làng thanh bình. Trong làn khói lam chiều bảng lảng, ký ức về trận vỡ đê năm Kiến Gia cuối thời Lý bỗng dội về trong tâm trí Khiêm. Nhưng lần này, không còn tiếng khóc than xé ruột của gia đình chìm sâu dưới cuồng lưu. Giữa mênh mông sông nước, ông như thấy bóng hình cha mẹ và những người thân yêu đã khuất đang mỉm cười thanh thản nơi chín suối.
Lời thề trị thủy cả đời nay đã viên mãn trọn vẹn. Khiêm thấu suốt sâu sắc chân lý ngàn đời của non sông: giữ nước không nằm ở hào sâu thành cao hay đao kiếm giáp trụ, mà bắt đầu từ việc khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, từ việc giữ lấy bát cơm no ấm của muôn vạn lê dân. Công trình ba mươi dặm đê quai vạc này không chỉ đắp bằng đất đá cọc cừ, mà được dựng xây bằng chính lũy thành nhân tâm cố kết của muôn triệu người con đất Việt.
Dòng phù sa sông Nhị Hà đỏ nặng êm ả xuôi dòng bồi đắp bờ xôi ruộng mật, khép lại trọn vẹn thiên anh hùng ca đắp lũy hộ đê và khắc ghi muôn đời khúc khải hoàn thái bình của muôn triệu con dân Đại Việt.
Đọc truyện full tại https://truyenfull.link/
Bình luận chương