Gió đồng lồng lộng thổi qua vạt áo nâu sồng của Đào Thế Doanh khi anh dừng bước trên gờ mương lớn. Mấy tháng thoi đưa kể từ ngày khơi thông dòng nước ngọt xua tan bóng ma đói khát, cánh đồng Đồng Rộng một nghìn mẫu từng nứt toác suốt ba năm ròng nay khoác lên mình tấm áo vàng rực óng ả ngút tầm mắt. Những bông lúa mẩy hạt cong trĩu, rập rờn theo từng đợt sóng vàng nhấp nhô dưới ánh mai trong trẻo.
Dưới các chân ruộng, cảnh tượng ngày mùa rộn rã như ngày hội. Tiếng liềm cắt gốc rạ xoẹt… xoẹt… đều đặn, tiếng bà con í ới gọi nhau vang khắp bờ bãi. Những đòn gánh tre uốn cong kĩu kịt chở từng bó lúa nặng trịch hướng về sân đình. Nụ cười rạng rỡ bừng nở trên những gương mặt dãi dầu sương gió, từng hộc lúa vàng ươm thơm ngát hương cốm mới như gột sạch bao cơ cực lầm than tích tụ qua ba mùa đại hạn.
Tại sân đình Cổ Lũy, tiếng trống hội tùng… tùng… cắc rền vang ngân nga. Lễ tế Thần Nông mừng vụ mùa đại thắng được dân làng tổ chức trang trọng nhất trong mấy mươi năm qua. Khói trầm nghi ngút hòa cùng mùi xôi nếp mới đồ thơm nức lan tỏa dưới bóng cờ ngũ sắc rực rỡ.
Bên vách đá Bàn Than cao đúng năm trượng, nơi cụm mười hai bờ xe nước vẫn rì rào múc nước sông Trà cuộn chảy, một tấm bia đá xanh vừa được dựng lên sừng sững. Từng nét chữ khắc sâu vào mặt đá tạc ghi công đức của những người thợ mộc Cổ Lũy và tình làng nghĩa xóm keo sơn, đã đục mộng, ghìm then đưa dòng nước vượt dốc đá hiểm trở cứu lấy ruộng đồng.
Dưới bóng râm cây đa cổ thụ cạnh đình, Quan Huyện Tạ Lương trong bộ thanh y nho nhã đang cùng Cụ Cửu Thiện và Doanh thưởng chén trà sen thơm ngát. Nhìn dòng nước ngọt đang cuồn cuộn chảy qua đại mương chia về từng ngõ xóm, Huyện lệnh khẽ vuốt cằm, mỉm cười tấm tắc: — Bản huyện đi khắp các hạt trong trấn, chưa từng thấy nơi nào dựng được cụm bờ xe nước kỳ vĩ và quy tụ lòng dân đồng thuận như ở Cổ Lũy. Lão trượng và thầy Doanh thực đã làm nên chuyện xưa nay hiếm có.
Cụ Cửu Thiện vuốt chòm râu bạc phơ như cước, đôi mắt tinh anh ánh lên nét cười thư thái: — Thưa đại nhân, lão vốn giấu kín thân thế bấy lâu, nay thái bình thịnh trị cũng xin giãi bày. Ba mươi năm trước, lão từng giữ chân Đốc công Thủy vụ nơi Thượng Ty triều đình, từng trông nom bao công trình đắp đập chốn kinh kỳ. Khi cáo lão về quê, thấy cường hào lộng hành ức h**p dân lành, lòng dạ xót xa nhưng sức tàn lực kiệt. May nhờ cháu Doanh chí bền như sắt, kỹ nghệ trác tuyệt, lão mới đem chút kinh nghiệm tàn niên và uy tín đình làng ra tương trợ. Thấy cơ nghiệp tiền nhân được tiếp nối, dân làng thoát cảnh lầm than, tâm nguyện cả đời lão coi như đã trọn vẹn.
Tạ Lương nghe xong vội đứng dậy, hai tay chắp trước ngực nghiêng mình kính cẩn: — Hóa ra cụ Cửu từng là bậc tiền bối của Thủy Ty triều đình! Thảo nào từng đường đi nước bước bảo vệ dân hạt đều thấu suốt đạo lý và phép nước. Thật đáng khâm phục!
Xoay người sang Đào Thế Doanh, ánh mắt Huyện lệnh Tạ Lương lộ rõ vẻ trân trọng đặc biệt. Vị quan phụ mẫu hạ giọng, cất lời chân thành: — Thầy Doanh, bản huyện vừa nhận công văn từ kinh thành. Triều đình hay tin cụm bờ xe nước mười hai guồng liên hoàn khắc chế vách đá năm trượng, cứu sống mùa màng hạt ta, các quan Thượng thư hết sức kinh ngạc. Quan lớn Bộ Công có lời khen ngợi và truyền lệnh cho bản huyện tiến cử ngươi vào kinh đô, nhậm chức Quản đốc Thủy vụ của Thượng Ty, ban cấp phẩm hàm ngũ phẩm để trông coi đê điều sông ngòi cả nước. Ngươi tài ba quán thế, vào triều ắt rạng rỡ tông môn. Ý ngươi thế nào?
Nghe những lời trọng thị ấy, Doanh khẽ mỉm cười điềm đạm. Anh đứng dậy, chắp tay cúi đầu tạ từ nhưng giọng nói trầm ấm và dứt khoát như đinh đóng cột: — Thảo dân đội ơn đại nhân và triều đình đã đoái thương. Nhưng thảo dân sinh ra từ làng bãi, lớn lên cùng tiếng đục tiếng cưa nơi rặng tre bến nước. Chân thảo dân tật nguyền, tính tình vụng về nơi chốn công môn lụa là quyền quý. Cả đời này, thảo dân chỉ mong ở lại bãi sông Trà, sớm tối bên con gái nhỏ và bà con chòm xóm, dùng chiếc đục chiếc cưa gìn giữ cho trục gỗ bờ xe nước không ngừng quay. Sông nước là của muôn dân, thảo dân xin làm người thợ giữ mạch nước quê hương, ấy là ân huệ lớn nhất rồi.Tạ Lương nhìn sâu vào đôi mắt sáng quắc, thanh thản của người thợ mộc, trong lòng dâng lên niềm thán phục khôn cùng. Vị quan huyện khẽ gật đầu, cất giọng đầy cảm khái: — Người không màng danh lợi, một lòng vì dân vì nghề như thầy Doanh, quả là bậc trượng phu chốn thôn dã! Bản huyện xin tuân theo chí nguyện cao đẹp ấy.
Rời bóng cây đa, Doanh nhìn về khoảng sân xưởng mộc bến sông. Nơi ấy, con gái Trúc Lan đang bận rộn bên chiếc bàn gỗ mộc. Thiếu nữ mười bảy tuổi khoác áo nâu sồng gạt ống tay gọn gàng, tay thoăn thoắt chấm bút lông ghi chép sổ sách phân phối tre luồng, chão mây tiếp tế tu bổ giàn nước cho mười xóm ven sông. Nụ cười hiền hậu cùng nét mặt rạng rỡ của con gái khiến lòng Doanh ấm áp khôn xiết. Con bé nay đã thực sự trở thành người quản xuyến hậu cần mẫn tiệp, chu toàn mọi việc xưởng mộc, được dân làng hết mực yêu quý nể vì.
Cách đó không xa, dưới mái lán xưởng mộc, Trần Đại Lực đang dứt khoát vung rìu đẽo một thanh ngàm đuôi én. Bả vai từng bị roi vọt rách thịt ngày nào nay đã liền thành vết sẹo mờ rắn rỏi, hai cánh tay gân guốc vung từng nhát đục chuẩn xác vào thớ gỗ. Chàng tráng đinh bộc trực cậy sức thuở trước nay đã là thợ cả chững chạc, thay Doanh chỉ huy đám thanh niên ráp nối khung sườn gỗ. Trưa nay, chính Doanh đã thấy Đại Lực bưng bát cơm gạo mới thơm dẻo về căn nhà tranh đầu xóm, ân cần bón từng thìa cho người mẹ mù lòa. Nghe tiếng mẹ cười móm mém khen hạt lúa ngọt bùi, ánh mắt Đại Lực lấp lánh niềm vui của người con làm tròn đạo hiếu.
Doanh cất từng bước đi thong thả về phía bờ bãi. Chiếc chân trái từng chịu thương tật trong trận đỡ rầm gỗ cứu người bảy năm trước vẫn hơi tập tễnh, nhưng mỗi bước chân chạm xuống nền đất bãi sông đều đĩnh đạc, vững chãi. Đã tan biến hoàn toàn mặc cảm tự ti của người thợ tàn phế thuở nào; đi đến đâu, từ các cụ già đến đám trẻ chăn trâu đều kính cẩn nghiêng mình cất tiếng chào “thầy Doanh” bằng tất cả lòng tôn kính chân thành.
Chạm bàn tay dày cộm chi chít sẹo đục đẽo vào gối đỡ đôi của cỗ guồng số một, Doanh khẽ khép mắt lại. Trong thức hải tĩnh lặng, các ký tự cổ mộc lung linh của Thủy Công Cổ Pháp từng soi sáng những đường vân chịu lực, góc vát nan cản và lưu lượng dòng nước suốt thời gian qua bỗng khẽ rung rinh. Từng nét chữ mờ dần, hóa thành muôn ngàn đốm sáng li ti rồi hòa tan vĩnh viễn vào trong từng thớ thịt, đường gân và tâm trí anh. Cổ pháp đã hoàn tất trọn vẹn sứ mệnh kỳ diệu; toàn bộ phép tính cơ học tinh vi nơi dòng nước xiết lúc này đã hòa quyện vào tri thức lao động dân gian, trở thành kinh nghiệm thực tiễn truyền khẩu của người thợ sông nước.
Trở về xưởng mộc bến sông Trà, Doanh cầm cây gậy tre đực từng đồng hành suốt sáu mươi ngày đêm gian nan, nhẹ nhàng đặt nó tựa ngay ngắn vào vách thềm nứa. Cây gậy mộc mạc bóng loáng mồ hôi đứng đó như một chứng nhân thầm lặng cho bản lĩnh quật cường và ân tình làng xóm.
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: https://truyenfull.link
Doanh bước vào gian xưởng ngập tràn mùi dăm bào gỗ nghiến thơm chát và mùi dầu rái ngai ngái quen thuộc. Quanh anh, hàng chục chàng trai trẻ khôi ngô đến từ mười tổng ven sông Trà đang chăm chú vây quanh. Cầm chiếc dùi vồ bằng gỗ lim và chiếc đục bén ngót trên tay, Doanh khẽ mỉm cười, giọng trầm ấm ngân vang: — Muốn trục bền, mộng phải khít khao; muốn gàu múc no nước vượt dốc năm trượng, góc néo phải thuận theo thế nước. Nhát cưa đầu tiên là lòng ngay thẳng, nhát đục thứ hai là tình nghĩa xóm giềng…
Tiếng đục gõ cốc… cốc… cắc chan chát lại vang lên đều đặn bên thềm xưởng mộc, hòa cùng tiếng trục gỗ nghiến kẽo kẹt rộn rã ngoài bãi sông. Dưới chân vách đá Bàn Than, cụm mười hai bờ xe nước khổng lồ vẫn không ngừng xoay tròn, kiêu hãnh rẽ sóng bạc đưa dòng nước mát lành tưới đẫm ngàn đời phù sa, thắp sáng mãi ngọn lửa nghề mộc nước và mạch sống ấm no của làng Cổ Lũy qua muôn thế hệ.
Đọc truyện full tại https://truyenfull.link/
Bình luận chương